PNH


Vãn giác văn chương chân tiểu kỹ... Tô Đông Pha.




Một góc nhìn...


Photobucket
Photobucket

Thứ Sáu, ngày 16 tháng 11 năm 2012

Nghĩ trên đường đi.


                                     Thiếu nữ Hà Nội năm xưa. Ảnh: Internet.

Tôi ở quận 3 - Sài Gòn, gần đường Bà Huyện Thanh Quan, hàng ngày phải đi qua con đường này mấy lượt. Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, quê ở làng Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuận (thuộc Hà Nội ngày nay), không rõ năm sinh và năm mất của bà. Tên Bà Huyện Thanh Quan là lấy theo chức vụ của chồng bà, ông Lưu Nguyên Ôn (Lưu Nghi 1804-1847), đậu cử nhơn dưới thời nhà Nguyễn, từng giữ chức tri huyện Thanh Quan (nay là huyện Thái Ninh - Thái Bình). Bà là học trò của danh sĩ Phạm Quý Thích, bà nổi tiếng giỏi thơ văn, từng được triệu vào kinh thành Huế làm Cung trung giáo tập dưới thời vua Minh Mệnh, dạy học cho các cung phi và công chúa.

Bà sáng tác không nhiều, tác phẩm của bà còn lưu được cho hậu thế khoảng mươi bài thơ chủ yếu bằng chữ Nôm, được truyền tụng nhiều hơn cả là những bài Qua đèo ngang, Thăng Long thành hoài cổ, Chùa Trấn Bắc, Chiều hôm nhớ nhà... là những bài đã được đưa vào chương trình dạy học xưa nay cả ở hai miền Nam Bắc. Trong những bài thơ của bà có bài Qua đèo ngang là được nhắc đến nhiều nhất, không hẳn là xuất sắc hơn các bài kia, mà bởi những tranh luận không dứt về chữ "chợ" hay "rợ", trong câu thứ tư của bài thơ. Có lẽ ai cũng thuộc bài thơ này của bà. Tôi chỉ chép lại dưới đây hai câu 3 và 4 của bài thơ thất ngôn bát cú, gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ:

Lom khom dưới núi tiều vài chú/ Lác đác bên sông chợ (rợ) mấy nhà.

Xưa thời tôi học trung học đệ nhị cấp ở Sài Gòn, học môn Cổ văn, sách giáo khoa thời ấy tôi được học viết là chữ "chợ", (chợ mấy nhà), và vì khá thích môn Việt văn, Cổ văn cho nên tôi còn nhớ thày giáo ngày đó, giải thích chữ "tiều vài chú", và "chợ mấy nhà" chỉ có tính cách ước lệ, vì Bà Huyện Thanh Quan đi ở trên đèo Ngang nhìn xuống đám rừng xa xa phía dưới thấy có mấy người, nên cho là tiều phu, và ven sông có lác đác mấy ngôi nhà cho nên coi đó như là một xóm chợ, chứ bà Huyện có đến đó đâu mà biết rõ đó là tiều phu, hay mấy ngôi nhà là chợ. Kể ra xưa thày giáo giảng như thế nghe rất có lý. Hồi xưa đó đám học sinh chúng tôi cũng chẳng có đứa nào thắc mắc lời giải thích của thày giáo hết.

Sau này thì như chúng ta đã biết, người ta tranh luận nhiều về chữ "chợ" trong "chợ mấy nhà", bởi cũng có nhiều sách chép là "rợ mấy nhà", xem "chợ hay rợ" mới là từ đúng. Bây giờ chỉ cần gõ trên Google "rợ - chợ trong bài thơ Qua đèo Ngang", chúng ta có thể đọc được vô số những ý kiến về vấn đề này trên những trang mạng. Người nói là "chợ", người cho là "rợ", với đủ mọi lý lẽ của mình, và tôi thấy đa phần cho là từ "rợ mấy nhà", với cái lý: xưa thế kỷ thứ XIX thời Bà Huyện Thanh Quan đi qua đó đèo Ngang hoang vắng lắm, chỉ có "nhà của rợ" tức là nhà của mấy người thiểu số thôi, làm gì có "chợ" ở nơi hẻo lánh đó... Người nói "chợ" thì bảo: văn chương bà Huyện tao nhã lắm, sao lại mang "rợ" là "mọi rợ" vào được. Cũng có người còn nói "rợ" mới đúng, nhưng không phải "rợ" trong "mọi rợ" như người ta dẫn chứng, mà "rợ" là tiếng cổ của địa phương nơi đèo Ngang, có nghĩa là "nhà bằng lá hay rơm, rạ", và nói "rợ mấy nhà" chỉ là nói mấy ngôi nhà bằng lá, rơm, rạ ngày xưa ở dưới đèo Ngang lúc Bà Huyện Thanh Quanh đi qua thôi (điều này lại càng vô lý, bởi Bà Huyện Thanh Quan là người vùng Thăng Long, chứ không phải là người địa phương đèo Ngang để biết được nghĩa trên, làm bài thơ Qua đèo Ngang là khi bà đi ngang qua vùng này).

Người khác lại nói, không phải "chợ", hay "rợ", mà có lẽ là "rạ" (nhà bằng rơm rạ), cũng có người cho là "vạn" (nhà của vạn đò ở ven sông). Rồi cũng có người nói từ "rợ" mới đúng niêm luật về đối chữ của thơ Đường luật (rợ đối với tiều). Tuy nhiên trên trang mạng Wikipedia nói về niêm luật thơ Đường luật, dẫn chứng cụm từ "tiều vài chú" đối với cụm từ "chợ mấy nhà" trong bài thơ Qua đèo Ngang là chỉnh, bởi "tiều vài chú" là cụm từ chỉ người là "động", thì "chợ mấy nhà" là cụm từ chỉ vật thể là "tĩnh", "động" đối với "tĩnh" là hoàn chỉnh. 


                                                   Chợ trong chữ Nôm.


                                                  Rợ trong chữ Nôm.


Có một điều khá lạ lùng trong những cách giải thích mà tôi đã đọc được, là ai cũng giải thích theo cách suy nghĩ chủ quan của mình, mà hiếm thấy người đặt vấn đề là: Thế thực sự Bà Huyện Thanh Quan viết trong bài thơ Qua đèo Ngang ấy là gì? "chợ" hay "rợ". Như chúng ta đã biết đây là một bài thơ viết bằng chữ Nôm của Bà Huyện Thanh Quan ở vào khoảng nửa đầu của thế kỷ XIX (19), tức là ở thời gian này thì chữ Nôm đã hoàn chỉnh, và chữ quốc ngữ theo La tinh a, b, c đã xuất hiện. Tôi không rõ những bài thơ của Bà bây giờ đã được dịch từ những bản văn chữ Nôm nào, có phải là bản gốc của bà đã viết hay không...?

Như chúng ta đã thấy bên trên, trong chữ Nôm, từ "chợ" và "rợ" hoàn toàn viết khác nhau. Chữ "chợ" bao gồm 2 chữ Hán ghép lại, bên trên là chữ "trợ" chỉ âm, ghép bên dưới là chữ "thị" chỉ ý. Còn chữ "rợ" là chữ mượn chữ "di" (man di), đọc theo âm Hán Việt từ chữ Hán, chuyển sang chữ Nôm đọc thành "rợ". Chắc chắn trong bài thơ chữ Nôm nguyên bản của Bà Huyện Thanh Quan hai chữ "chợ" và "rợ" không thể lầm lẫn được. Không hiểu sao những bản dịch viết theo chữ quốc ngữ bây giờ có bản lại viết là "chợ", có bản viết là "rợ", không rõ cớ sự? Những bài ấy như đã nói đã được dịch từ những bản Nôm nào? Trường hợp này có lẽ cũng tương tự như truyện Kiều của Nguyễn Du (Nguyễn Du cũng là người cùng thời với Bà Huyện Thanh Quan), là thể thơ được viết bằng chữ Nôm, nhưng bản dịch sang chữ quốc ngữ có nhiều câu, chữ khác nhau, cũng bởi bản Nôm của truyện Kiều cũng có nhiều bản, có lẽ là chép qua chép lại rồi "tam sao thất bổn", mỗi bản chép một khác...

Như vậy, nếu không thể tìm ra được bản gốc chữ Nôm của bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, hoặc một bản Nôm nào đó được giới chuyên môn công nhận là bản chép trung thực nhất bài thơ này, thì có lẽ ta phải chấp nhận câu "Lác đác bên sông chợ (rợ) mấy nhà", với chú thích "có bản chép là chợ, có bản chép là rợ". Chứ không thể nào nói "chợ" hay "rợ", hoặc là một từ nào khác theo như suy nghĩ chủ quan của mình được...



--> Read more..

Thứ Hai, ngày 12 tháng 11 năm 2012

Vài nét về Gia Định năm xưa.


                                      Dinh Xã Tây (UBND TP). Ảnh: Internet.

                            Dinh Tham Biện Gia Định (UBND quận Bình Thạnh)


                                     Săn hổ ở Gia Định năm xưa. Ảnh: Internet.



Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí chép, Gia Định xưa là nước Phù Nam, sau bị Chân Lạp thôn tính, gọi là Thủy Chân Lạp, là Giản Phố Trại (phiên âm chữ Hán của Căm pu chia). Đầu năm Kỷ Mùi (1679) Thái Tông Hiếu Triết Hoàng đế (Nguyễn Phúc Tần, 1648-1687) sai tướng mở mang biên cảnh, lập đồn dinh ở Tân Mỹ. Năm Mậu Dần (1698), Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế (Nguyễn Phúc Chu, 1691-1725) lại sai Thống suất Chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính (Nguyễn Hữu Cảnh) kinh lược đất ấy, đặt phủ Gia Định, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đặt chức Giám quân, Cai bạ và Ký lục để cai trị.

Sau này đất Gia Định còn chứng kiến biết bao nhiêu binh lửa, cuộc chiến tranh dai dẳng giữa Nguyễn Ánh và anh em nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, giữa nhà Tây Sơn và quân Xiêm, giữa triều Nguyễn và thực dân Pháp...

Đất Gia Định (vùng đất Sài Gòn) theo sử sách được hình thành như thế, vào khoảng nửa cuối thế kỷ thứ 17, trên vùng đất Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobey (Bến Nghé) của Chân Lạp năm xưa. Đất Gia Định khi ấy còn là rừng rậm bạt ngàn, đầy thú dữ. Sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức cũng có chép, chợ Tân Cảnh (Tân Kiểng), tục gọi chợ Quán (vùng chợ Quán bây giờ thuộc quận 1, là quận trung tâm Sài Gòn). Ở phía nam Trấn thự (thành Gia Định), cách hơn 6 dặm, phố chợ trù mật, hàng năm tết Nguyên đán thường dựng cây đu cho nên gọi là Chợ Lớn. Ngày 25 tháng giêng mùa xuân năm Canh Dần, Duệ Tông thứ 6 (1770) (Lê Hiển Tông Cảnh Hưng thứ 31, Thanh Càn Long thứ 35), sau khi đại định, có hổ dữ vào nhà dân ở phía nam chợ này hét kêu dữ dội, nhân dân sợ hãi, báo đến dinh đồn, sai quân đến vây bắt, cả nhà cửa làm rào giậu bao vây nhiều lần. Hổ rất hung tợn, không ai dám đánh. Đến ngày thứ ba, có nhà sư từ xa đến là Hồng Ân và đồ đệ là Trí Năng tình nguyện vào bắt hổ. Hồng Ân đánh nhau với hổ, hồi lâu hổ bị côn đánh đau, nhảy vào bụi tre, Hồng Ân đuổi theo, hổ đánh lại, Hồng Ân lui bước vấp ngã xuống ngòi, bị hổ vồ bị thương. Trí Năng tiếp ứng, đánh trúng đầu hổ làm hổ chết ngay. Hồng Ân bị thương nặng cũng chết ngay sau đó. Người ở chợ cảm nghĩa nhà sư, chôn ở đất ấy, xây tháp, nay vẫn còn... Sự tích hai nhà sư Hồng Ân và Trí Năng đánh hổ ở chợ Tân Kiểng sách Đại Nam Nhất Thống Chí cũng chép như thế.

Còn sông Bến Nghé, tên chữ là Ngưu Chử còn gọi là sông Tân Bình, sách Đại Nam Nhất Thống Chí có chép, tục truyền sông này khi trước có nhiều cá sấu, từng đàn đuổi nhau, kêu như tiếng trâu rống, cho nên gọi tên như thế. Buổi đầu Trung hưng, năm Mậu Thân (1788), thu phục Gia Định, sông này nước trong. Năm Gia Long thứ 16 (1817), nước lại đục. Năm Minh Mạng thứ hai (1821), và năm thứ sáu (1825), nước sông có hai lần trong, người ta cho là điềm thái bình. Năm Minh mạng thứ 19 (1838), đúc chín cái đỉnh, khắc hình tượng sông Bến Nghé vào Cao đỉnh (Cao đỉnh là đỉnh đặt trước miếu Thái Tổ Cao Hoàng đế ở Thế Miếu), ghi vào Tự điển.

Trên đất Gia Định năm xưa còn có Thành Gia Định, được xây dựng vào năm Canh Tuất (1790) ở thôn Tân Khai, còn gọi là thành Bát quái hình như hoa sen, mở ra 8 cửa... còn gọi là thành Qui, vị trí nằm giữa 4 con đường mang tên: Đinh Tiên Hoàng (đông), Nam Kỳ Khởi Nghĩa (tây), Lê Thánh Tôn (nam), Nguyễn Đình Chiểu (bắc)... Ngoài ra còn có Lũy Bán Bích (bán bích: hình nửa ngọc bích) do Đốc chiến Tiên triều là Nguyễn Cửu Đàm đắp...

Về các loài thú thì đất Gia Định năm xưa Đại Nam Nhất Thống Chí có chép gồm đủ các loại thú như: tê giác, voi, gấu, hổ, báo, trâu, ngựa, dê, huơu, nai, bò tót, lợn rừng, thỏ, dưới sông có cá sấu...

Thương hải tang điền, bãi biển thành nương dâu... chỉ mọi vật thay đổi, mấy trăm năm trôi qua, vùng đất Gia Định - Sài Gòn đã có biết bao nhiêu đổi thay...

Sách tham khảo:

- Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí, Tổng tài Cao Xuân Dục, Toàn tu: Lưu Đức Xứng, Trần Xán, Hoàng Văn Lâu dịch, nhà xuất bản Lao Động - Trung Tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông Tây xuất bản năm 2012.


- Gia Định Thành Thông Chí, Trịnh Hoài Đức, dịch giả: Đỗ Mộng Khương - Nguyễn Ngọc Tỉnh, hiệu đính và chú thích: Đào Duy Anh, Viện Sử Học, Nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản năm 1999.


--> Read more..

Thứ Sáu, ngày 09 tháng 11 năm 2012

Bông - Hoa.




Có một từ ngữ chúng ta vẫn thường dùng, đọc, nói hàng ngày mà chắc chắn ai cũng rõ nghĩa, đó là danh từ Bông - Hoa. Hồi nào tới giờ hình như chúng ta hiểu Hoa là từ ngữ của người miền Bắc và Bông, là từ ngữ của người miền Nam hay nói, viết, nói cách khác Hoa là phương ngữ của miền Bắc, và Bông là phương ngữ của miền Nam, cũng như khi ta nói "con lợn" và "con heo" vậy. Tuy nhiên khi đọc trong sách vở tôi thấy có một cái gì đó ngờ ngợ, không hẳn là như thế.


  Chữ Bông trong tiếng Nôm, gồm chữ Thảo (chỉ ý), và chữ Phong (chỉ âm).
 


                           Chữ Hoa trong tiếng Hán - Việt và chữ Nôm.


Chữ Hoa được dùng thường xuyên ở miền Bắc điều này đã rõ, nhưng chữ Bông vẫn dùng trong văn chương xuất hiện tại miền Bắc đã từ lâu, chẳng hạn chúng ta thấy trong những câu Kiều của văn hào Nguyễn Du dưới đây:

- Cành lê trắng điểm một vài bông hoa (câu 42), Gió hiu hiu thổi một vài bông lau (câu 98), hoặc: Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông (câu 1308).

Như chúng ta cũng đã biết, Nguyễn Du (1766-1820) xuất thân trong dòng họ Nguyễn ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng gốc gác của Ông ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc Hà Tây), và thời niên thiếu Ông sống ở Thăng Long. Sau làm quan dưới triều Nguyễn, và mất dưới thời Minh Mạng tại kinh thành Huế.

Chữ bông trong ba câu Kiều trên, từ điển truyện Kiều của Đào Duy Anh giải thích: 1/ Bông: cái hoa, 2/ Loại từ dùng để chỉ cái hoa. Từ điển từ cổ của Vương Lộc viết: Bông: 1/ Hoa, 2/ Đóa (hoa). Người Rục cũng dùng từ bông để gọi bông, hoa, và phương ngữ Bắc Trung bộ cũng gọi hoa là bông, boông.

Như vậy, như chúng ta đã thấy, từ bông không chỉ được dùng riêng ở miền Nam, không hẳn chỉ là phương ngữ Nam bộ.

Thế còn từ hoa, có phải là phương ngữ của miền Bắc hay không? tôi thấy chữ hoa có lẽ cũng không phải chỉ là phương ngữ của miền Bắc. Miền Nam cũng dùng chữ Hoa, chẳng hạn trong nguồn gốc của "cầu Bông" tại Sài Gòn, sách Sổ tay Địa danh Thành phố HCM của Lê Trung Hoa, Nguyễn Đình Tư viết: Ban đầu gọi là cầu Cao Miên vì cầu ở cạnh khu vực người Cao Miên là Nặc Tha cư ngụ (từ năm 1736). Sau gọi là cầu Hoa vì ở cạnh vườn hoa của lăng Tả quân Lê Văn Duyệt (lăng Lê Văn Duyệt ngày xưa rất rộng, kéo dài đến rạch Thị Nghè). Từ năm 1842, vì kỵ húy bà Hồ Thị Hoa (mẹ vua Thiệu Trị), đổi bằng từ đồng nghĩa, thành cầu Bông. Về từ hoa, cũng do kỵ húy mà ở miền Nam đổi thành huê, như chúng ta vẫn thấy trong những từ huê viên (hoa viên), huê lợi (hoa lợi)...

Ở Việt Nam, sách vở cũng có nói, có một thứ ngôn ngữ Việt cổ đó là tiếng Mường ở vùng thượng du Bắc bộ, người Mường là một dân tộc có dân sđứng hàng thứ ba (khoảng gần một triệu người) trong cộng đồng các dân tộc tại Việt Nam, gồm 54 dân tộc). Trong ngôn ngữ của người Mường (Hòa Bình) vẫn còn tồn tại hai danh từ để chỉ bông, hoa chúng ta còn thấy được, như sau:

1/ pông: bông, hoa. Câu tiếng Mường: nhà nả cỏ môch câl chi pông hơm lẳm (nhà nó có một cây gì hoa thơm lắm).

2/ wa: hoa. câu tiếng Mường: cải pông wa nì pẫu hốc là pông chi? (bông hoa này người ta gọi là hoa gì?).

Như vậy có lẽ danh từ bông, hoa là từ ngữ có từ xưa, đã được dùng trên khắp mọi miền của đất nước...



Sách tham khảo:

- Tự điển chữ Nôm, Nguyễn Quang Xỹ - Vũ Văn Kính, Bộ Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu Sài Gòn xuất bản năm 1971.

- Từ điển Văn học Việt Nam, Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2005.

- Từ điển truyện Kiều, Đào Duy Anh, nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 1974.

- Từ điển Từ cổ, Vương Lộc, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học Hà Nội - Đà Nẵng xuất bản năm 2002.

- Sổ tay Địa danh TP HCM, Lê Trung Hoa, Nguyễn Đình Tư, nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ xuất bản năm 2012.

- Từ điển Mường - Việt, Nguyễn Văn Khang (chủ biên), Bùi Chỉ - Hoàng Văn Hành, Viện Ngôn Ngữ học, nhà xuất bản văn Hóa Dân Tộc Hà Nội xuất bản năm 2002.


   
                
--> Read more..

Thứ Năm, ngày 08 tháng 11 năm 2012

Kỳ tích thể thao.

Asiad 2019

Hà Nội được chọn tổ chức Asiad 2019

TT - Hà Nội đã được chọn tổ chức Asiad (Á vận hội) 18 vào năm 2019 sau khi vượt qua đối thủ duy nhất trong cuộc chạy đua giành quyền đăng cai là TP Surabaya (Indonesia).

>> Trao quyền đăng cai Asiad 2019 cho Việt Nam


Vào giờ chót, TP Dubai (Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, UAE) đã xin rút lui khiến cuộc bỏ phiếu chỉ còn là cuộc đua giữa hai đối thủ Surabaya và Hà Nội. Chủ tịch Hội đồng Olympic châu Á (OCA) Sheikh Ahmad Al-Fahad Al-Sabah đã công bố tên Hà Nội thắng cuộc tại cuộc họp báo. Tuy nhiên, ông Sheikh Ahmad Al-Fahad Al-Sabah không cho biết Hà Nội nhận được bao nhiêu phiếu mà chỉ nói: “Đa số phiếu bầu được dồn cho Hà Nội để nơi này tổ chức Asiad 18”.


                                                          Ảnh báo Tuổi Trẻ.


Đọc báo Tui Trẻ sáng nay (09/11/2012) thấy Việt Nam (báo ghi là Hà Nội), được (hay bị?) Ủy ban Olympic Châu Á chọn đăng cai Asiad 2019 mà chẳng có cảm giác gì cả. Giữa bộn bề công việc và nỗi lo thường ngày bây gi, một cái tin có vẻ "sốt dẻo" thế mà có vẻ lạc lõng. Nghe người ta nói, giàu có như Dubai (Tiểu vương quc Rập thông nhất - UAE), mà còn "bỏ của chạy lấy người" không màng tới việc đăng cai, thì xứ mình ráng... học gồng vơ lấy cái gánh nng ấy để làm gì?


Chỉ thấy cái giải bóng đá gọi là chuyên nghiệp cứ mãi ì ạch, các đội bóng đã muốn giải tán còn chưa thấy lo xong... Kệ, từ nay đến năm 2019 còn 7 năm nữa coi... con tạo xoay vần ra sao?



--> Read more..

Thứ Ba, ngày 06 tháng 11 năm 2012

Lai rai chữ nghĩa...


Có những chữ mà ta gặp thường ngày, nói, nghe người khác nói, hoặc đọc trên sách báo, vậy mà nhiều khi muốn biết từ nguyên của chữ, giở hết sách này đến từ điển kia, lạ thay lại khó tìm được nơi nào giảng nghĩa cho thỏa đáng, chẳng hạn như chữ rất hay gặp là "chợ búa". Lâu rồi thì phải, hình như hồi còn bên 360 tôi có nói đến nhưng mà hồi ấy chủ yếu tếu táo chơi cho vui, chứ cũng vẫn chưa hiểu rõ nghĩa. Nay có được một vài quyển sách tra cứu, có lẽ mới rõ được từ nguyên của chữ.

"Chợ búa" là chữ Nôm (đọc theo quốc âm), chứ không phải từ Hán - Việt. Chữ "chợ" chắc chúng ta đã rõ, để chỉ nơi buôn bán, nhưng còn chữ "búa"?, "búa" ở đây không phải là từ láy. Trong sách Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quý Đôn có chép: Bài Kinh khê sớ của người nhà Minh chép: Chợ nào ăn đến bến nước thì người xưa gọi là bộ, và chú thích ở cuối trang của người dịch: "Do đó, chữ búa trong danh từ chợ búa vốn do chữ bộ chuyển ra".

Như vậy đã khá rõ, nhưng chữ "bộ" tiếng Hán - Việt, chuyển sang chữ Nôm chúng ta thấy như dưới đây:



               Bộ chữ Hán - Việt, có nghĩa là đi bộ, nghĩa khác (5), là "bãi ven nước".



                                
Bộ, Bụa, chữ Nôm, có nghĩa là đi bộ, góa bụa.      

Chữ bộ (Hán - Việt) Khi chuyển sang chữ Nôm, như chúng ta đã thấy là vẫn giữ nguyên chữ (phép giả tá, là mượn nguyên một chữ Hán để viết chữ Nôm), với một nghĩa đi bộ như bên chữ Hán, và một nghĩa khác là bụa trong góa bụa. Như chúng ta đã thấy chữ bộ gốc ban đầu như Lê Quý Đôn đã viết trong Vân Đài Loại Ngữ mà tôi đã trích dẫn bên trên "Chợ nào ăn đến bến nước thì người xưa gọi là bộ", chữ bộ khi chuyển sang chữ Nôm có một âm là bụa, và từ búa trong chợ búa chắc hẳn cũng từ chữ bộ có nghĩa là "chợ ở nơi bến nước" mà ra, và chữ búa dùng trong quốc âm thì không đứng một mình, mà luôn đi đôi với chữ chợ thành chợ búa như chúng ta đã thấy.


Có một chữ khác nữa mà chúng ta vẫn gặp thường ngày, là chữ "xe cộ". Cũng là một chữ Nôm, trường hợp này cũng tương tự như chữ "chợ búa" bên trên. Chữ "xe" từ chữ Hán - Việt "xa" mà ra, còn chữ "cộ"? Tôi tìm trong nhiều sách từ điển chỉ thấy nói chung chung "xe cộ", duy có quyển từ điển Từ và Ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân, có giải thích từ "cộ": xe trượt không có bánh, và cũng có sách nói "cộ" là loại xe không có bánh (chắc kiểu như xe trượt tuyết) thường dùng nơi đồng ruộng do trâu bò kéo dùng để chở lúa... Tôi thử tìm hiểu từ nguyên của chữ "cộ".

 
            
                                    Từ Hán - Việt "cổ", có nghĩa là con bò đực.


                                       Từ Hán - Việt "hòa", có nghĩa là cây lúa.

                                                  Từ Nôm "cộ", trong xe cộ.


Như chúng ta đã thấy bên trên, chữ "cộ" trong xe cộ, bao gồm hai chữ Hán, chữ "cổ" là con bò đực ghép trên chữ "hòa" là cây lúa. Đây là phép "hình thanh" trong chữ Nôm, nghĩa là một nửa chữ là "hình", một nửa chữ là "thanh". Chữ "cổ" chỉ âm, chữ "hòa" chỉ nghĩa. "Cộ", là xe do trâu bò kéo chở lúa, và ở nơi đồng ruộng cho nên loại xe này là xe trượt chứ không có bánh xe như các loại xe thông thường, và người Việt dùng từ "xe cộ" là để chung cho các loại xe...


Sách tham khảo:

- Vân Đài Loại Ngữ - Lê Quý Đôn, bản dịch của Tạ Quang Phát, nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, xuất bản năm 1995.

- Từ điển Hán - Việt, Thiều Chửu, nhà xuất bản TP HCM, xuất bản năm 1997.

- Bảng tra chữ Nôm, Viện Ngôn ngữ học, nhà xuất bản Khoa học Xã hội, xuất bản năm 1976.

- Chữ Nôm Nguồn gốc và cấu tạo, Đào Duy Anh, nhà xuất bản Khoa học Xã hội, xuất bản năm 1975.

- Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nguyễn Lân, nhà xuất bản TP HCM, xuất bản năm 2000.

--> Read more..